DANH MỤC TÀI LIỆU
Tiểu luận: Phân tích những yếu tố, đặc điểm trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Vấn đề 3: Đồng chí hãy phân tích tính tất yếu đặc điểm
của thời kỳ quá độ . Liên hệ với thời kỳ quá độ lên CNXH
nước ta ?
BÀI LÀM
Thời kỳ quá độ lên CNXH thời kỳ cải biến cách
mạng sâu sắc toàn bộ các lãnh vực đời sống của hội, tạo
ra những tiền đề vật chất tinh thần cần thiết để hình thành
một hội trong đó những nguyên tắc căn bản của
hội XHCN sẽ được thực hiện. Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai
cấp công nhân giành được chính quyền nhà nước cho đến
khi CNXH đã tạo ra được những sở của mình trong các
lãnh vực của đời sống hội. Xét về bản chất, mục tiêu nhất
quán của các chế độ XH từ khi Đảng của giai cấp công
nhân lãnh đạo thì thời kỳ quá độ lên CNXH nằm trong giai
đoạn thấp của hình thái KT-XH CSCN
1. Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNXH
Quá độ lên CNXH một tất yếu lịch sử. Tính tất yếu
khách quan của thời kỳ quá độ được quy định bởi 2 do
bản sau đây :
Một CNXH - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế
hội CSCN - không thể tự phát ra đời trong lòng hội cũ.
CNTB phát triển trình độ cao cũng chỉ tạo ra những tiền
đề vật chất cho sự ra đời của CNXH. Còn bản thân công
cuộc xây dựng CNXH chỉ thể thực hiện được chỉ khi giai
cấp công nhân nhân dân lao động giành lấy chính quyền
nhà nước sử dụng bộ máy nhà nước của mình để cải tạo
hội cũ, xây dựng hội mới từ sở hạ tầng đến kiến
trúc thượng tầng.
Hai với điểm xuất phát về kinh tế - hội của hội
tiền bản bản, sau khi giai cấp công nhân nhân
dân lao động trở thành chủ thể cầm quyền, trong hội đó
còn chưa đủ những tiền đề vật chất, văn hóa tinh thần
cần thiết để thực hiện những chuẩn mực của hội XHCN.
Muốn đạt được những đặc trưng đó, phải trãi qua quá trình
tổ chức, xây dựng để từng bước cải tạo các quan hệ KT-XH
bản tiền bản, phát triển lực lượng sản xuất thay
đổi tương ứng trên lĩnh vực QHSX, phát triển một cấu
hội tiến bộ, đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phù hợp
với nhu cầu giải phóng con người. Nói riêng trên lĩnh vực
kinh tế, toàn bộ sự phát triển của sản xuất các quan hệ
vật chất, tinh thần khác cho phép áp dụng một cách phổ biến
nguyên tắc phân phối theo lao động.
Các nhà sáng lập CNXHKH đã nêu ra hai kiểu quá độ
lên CNXH : Quá độ trực tiếp từ CNTB lên CNXH quá độ
gián tiếp từ hội tiền TBCN lên CNXH. trực tiếp hay
gián tiếp thời kỳ quá độ đều phải trãi qua một quá trình gay
go, phức tạp, lâu dài.
mỗi nước do những điều kiện lịch sử, kinh tế, hội
khác nhau độ dài, ngắn của thời kỳ quá độ khác nhau
nhưng nhìn chung đều phải trãi qua một thời kỳ quá độ để
đổi mới nền sản xuất hội, thay đổi căn bản trong mọi lãnh
vực của đời sống hội phải trãi qua một cuộc đấu tranh
quyết liệt mới thể thắng được sức mạnh to lớn của thói
quen quản lý theo kiểu tiểu tư sản và tư sản
2. Đặc điểm thời kỳ quá độ lên CNXH :
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên CNXH
những nhân tố của hội mới tàn tích của hội tồn
tại, đan xen lẫn nhau, đấu tranh trên mọi lãnh vực của đời
sống kinh tế, chính trị, văn hóa, hội, tưởng, tập quán
trong hội... biểu hiện dưới dạng cái còn tồn tại, những
bộ phận, những mảnh, những tàn (của hội bị đánh
bại nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn) xen kẻ với cái mới nảy
sinh đã ra đời nhưng chưa hoàn chỉnh, còn non yếu.
Thời kỳ quá độ cũng thời kỳ đấu tranh giai cấp
quyết liệt, gay go, phức tạp diễn ra trên tất cả mọi lĩnh vực,
rất khó khăn đòi hỏi giai cấp công nhân phải biết phân biệt,
bình tĩnh và chủ động khắc phục. Thể hiện cụ thể:
- Về lĩnh vực chính trị : bản chất nhất thời của thời kỳ
quá độ sự quá độ về chính trị, đó nhà nước chuyên
chính vô sản được thiết lập, củng cố và ngày càng hoàn thiện
- Về lĩnh vực kinh tế : sự phát triển chưa đồng đều
của LLSX trong thời kỳ này quy định tính tất yếu khách quan
trong sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác ngoài thành
phần kinh tế XHCN, trong đó có cả những thành phần kinh tế
tư bản.đối lập.
- Về lĩnh vực hội : do kết cấu kinh tế trên đây quy
định, trong hội còn nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau,
trong đó sự đối lập - đối kháng nhất định về những lợi ích
căn bản. Trong thời kỳ này còn sự khác biệt bản giữa
thành thị nông thôn, đồng bằng miền núi, lao động trí
óc lao động chân tay, vấn đề bình đẳng công bằng
hội cần phải được xác lập dần dần.
- Về lĩnh vực tưởng văn hóa : còn tồn tại
nhiều loại tưởng, văn hóa tinh thần khác nhau, cả sự
đối lập. Bên cạnh nền văn hóa mới, lối sống vừa xây dựng
còn tồn tại những tàn tích của nền văn hóa cũ, lối sống cũ,
tư tưởng lạc hậu, thậm chí phản động gây cản trở không nhỏ
cho con đường đi lên CNXH của các dân tộc sau khi mới
được giải phóng.
Tương ứng với tính phức tạp trong kết cấu kinh tế - xã
hội, tư tưởng tinh thần đó, thời kỳ quá độ thời kỳ đấu tranh
giai cấp chưa kết thúc. Trong thời kỳ này vẫn diễn ra cuộc
đấu tranh giữa giai cấp sản với giai cấp sản, giữa con
đường phát triển đất nước lên CNXH hay đi lên CNTB. Song,
đây cuộc đấu tranh diễn ra trong điều kiện mới (giai cấp
công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền), với nội dung
mới (mà trung tâm là xây dựng toàn diện xã hội mới, trong đó
xây dựng nền kinh tế XHCN là nhiệm vụ cơ bản nhất) và hình
thức mới (cơ bản là hòa bình với tổ chức xây dựng).
Cùng với những bước tiến trong quá trình xây dựng
CNXH, các thành phần nhân tố mang tính XHCN sẽ ngày
càng phát triển vươn lên vị trí chi phối trên mọi lĩnh vực;
con đường XHCN sẽ giữ vững vai trò chủ đạo.
Từ đó có thể nói, thời kỳ quá độ là thời kỳ, xét trên mọi
phương diện , còn tồn tại nhiều yếu tố khác nhau, đối lập
nhau, thâm nhập vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên,
xét về xu hướng tất yếu, các yếu tố mang tính chất XHCN sẽ
ngày càng phát triển, nhưng không loại trừ khả năng
những lúc, những nơi nhất định, cái tạm thời lấn áp cái
mới; trong đó tính tự phát TBCN còn có cơ sở rộng lớn. Trình
độ thấp trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ
lên CNXH quy định tính khó khăn, lâu dài của thời kỳ này.
Trong quá trình đó, sự phát triển tiến bộ thể đan xen với
những sự thoái lui tạm thời, những tìm tòi, thử nghiệm nhiều
khi phải làm đi, làm lại mới xác định được giá trị chân thật
của nó trong quá trình xây dựng XH mới.
3. Liên hệ với thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta
Quá độ lên CNXH ở mỗi nướcnhững nét đặc thù đo
điều kiện lịch sử cụ thể đất nước đó. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản, giai cấp công nhân nhân dân lao động
nước ta đã vận dụng nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-
Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH vào hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của Việt Nam, phù hợp với đặc điểm và truyền thống quý
báu của nước ta đồng thời tận dụng các ưu thế của thời đại
để định ra mục tiêu tổng quát, phương hướng bước đi
thích hợp nhằm thực hiện thành công bước quá độ đi lên
CNXH
Xuất phát từ một nước nông nghiệp nền kinh tế lạc
hậu, Đảng đã xác định con đường phát triển đất nước quá độ
lên CNXH không qua chế độ TBCN. Mặc CNXH trên thế
giới đang giai đoạn thoái trào, chúng ta không còn sự
giúp đở của các nước XHCN tiên tiến nhưng chúng ta vẫn có
thể đứng vững tin tưởng rằng con đường quá độ đi lên
CNXH bỏ qua chế độ TBCN nước ta vẫn con đường tất
yếu khả năng thực hiện những điều kiện khách
quan và chủ quan sau đây:
- Về khách quan : Thời đại ngày nay cũng thời đại
quá đ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, do đó
Việt Nam lựa chọn con đường đi lên CNXH là phù hợp với xu
thế tiến bộ của thời đại. Mặt khác thế kỷ XXI thế kỷ khoa
học công nghệ những bước nhảy vọt, kinh tế trí thức
ngày càng vai trò nổi bậc trong sự ảnh hưởng đến quá
trình lực lượng sản xuất của các quốc gia. Bên cạnh đó toàn
cầu hóa kinh tế một xu hướng khách quan lôi cuốn ngày
càng nhiều các nước tham gia. trong đó nước ta. Chính
những yếu tố khách quan này đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta..
- Về chủ quan : chúng ta quá độ lên CNXH với sự
lãnh đạo của Đảng cầm quyền Đảng Cộng sản Việt Nam,
một Đảng giàu tinh thần cách mạng gắn bó với quần chúng
nhân tố cùng quan trọng. Trong những thời điểm
phong trào XHCN, phong trào cộng sản công nhân quốc
tế sự khủng hoảng, chế độ XHCN Liên Đông âu
sụp đổ, Đảng ta vẫn vững vàng lãnh đạo nhân dân ta thực
hiện đường lối đổi mới vượt qua những hiểm nghèo đưa
công cuộc xây dựng CNXH bảo vệ đất nước của nhân
dân ta tiến lên một cách vững chắc. Kế thừa truyền thống
những kinh nghiệm cách mạng đã tích lũy, trãi qua thể
nghiệm tìm tòi, qua việc phát huy trí tuệ của toàn Đảng toàn
dân, Đảng ta đã xây dựng được đường lối đổi mới đúng đắn
hình thành những nét chủ yếu quan niệm về hội XHCN
nhân dân ta xây dựng con đường xây dựng CNXH
nước ta. Công cuộc đổi mới do Đảng chủ trương tổ chức
thực hiện mấy năm qua đã thu được thành tựu to lớn ý
nghĩa rất quan trọng. Nhờ đường lối đổi mới đúng đắn
đất nước đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng KT-XH để từng
bước vượt qua nước nghèo tiến lên giàu mạnh nhân dân
cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đội ngũ cán bộ Đảng viên của
Đảng đại đa số đều những người trung thành với sự
nghiệp cách mạng, nhất trí với đường lối của Đảng, ý chí
biến đường lối đó thành hiện thực. Nhân dân ta cần cù, thông
minh, sáng tạo rất cách mạng, lòng yêu nước gắn với
chế độ, với Đảng. Bên cạnh đó, Việt Nam một nước
nhân lực dồi dào, tài nguyên đa dạng, chúng ta cũng đã xây
dựng CNXH được mấy chục năm bước đầu đã xây dựng
được một số cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH.
Như vậy, nước ta bỏ qua chế độ TBCN quá đ lên
CNXH sự lựa chọn tính chất lịch sử phù hợp với lợi ích
dân tộc nhân dân, phù hợp với xu thế phát triển của thời
đại. Nhưng làm cho CNXH trở thành hiện thực một nước
như nước ta thật không đơn giản. Hiện nay cuộc khủng
hoảng toàn diện sâu sắc của CNXH hiện thực đang đặt
CNXH trước sự công kích gay gắt chưa từng từ chiều
hướng này đã làm nảy sinh những khuynh hướng dao động
hoài nghi tậm chí phụ định khả năng đi lên CNXH những
nước còn lạc hậu về KT, trong khi đánh giá đầy đủ những
khó khăn hiện nay, nước ta vẫn kiên trì đi theo con đường
XHCN mà ND ta đã chọn lựa và thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện sự nghiệp xây sựng đất nước. Để thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh; hội công bằng dân chủ, văn
minh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất phảicải
tiến căn bản tình trạng kinh tế- hội m phát triển; đẩy
mạnh CNH; HĐH đất nước; chiến thắng những cản trở trong
việc thực hiện mục tiêu đó trước hết các thế lực thù địch
chống độc lập dân tộc CNXH. Bài học kinh nghiệm đầu
tiên của thắng lợi là: " Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc
CNXH."
Về mặt lịch sử, thời kỳ quá độ ở nước ta trãi qua 2 giai
đoạn : giai đoạn trước khi thống nhất đất nước năm 1975
giai đoạn cả nước thống nhất quá độ đi lên CNXH sau năm
1975
- Trước năm 1975, miền Bắc đã trên 20 năm cải
tạo hội từng bước xây dựng các mặt hội mới.
Trong những năm này, nhân dân miền Bắc đã làm nhiều việc
trong sự nghiệp xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa. CN
Mác Lênin đã thâm nhập vào quần chúng cách mạng như
một hệ tư tưởng chính thống; những tổ chức chính trị - xã hội
rộng lớn dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác Xít đã hoạt
động đạt những thành tựu nhất định. Mặc những
mặt chưa hòan thiện trong tổ chức hoạt động của mình,
chính quyền nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt
đáng kể làm thay đổi bộ mặt dân chủ về chính trị - hội
nước ta. Các nhân tố đó bước đầu đã mang tính chất tiến bộ,
tính chất XHCN ngày càng tăng lên quy tồn tại ngày
càng mở rộng. Thêm vào đó, sự giúp đỡ hiệu quả cả về
vật chất lẫn tinh thần của những nước XHCN anh em cũng
như sự cổ của phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ
trên thế giới … mang lại cho chúng ta không ít những nhân tố
thuận lợi cho sự phát triển của đất nước. Những nhân tố bên
trong bên ngoài đó tạo ra khả năng cho phép chúng ta bỏ
qua chế độ TBCN, tiến lên CNXH.
Miền Nam trước ngày giải phóng đã đi vào quỹ đạo
TBCN, đã làm nảy sinh phát triển giai cấp tư sản, tư tưởng tư
sản, sức mạnh của con đường TBCN Miền Nam còn được
nhân lên do bọn đế quốc xâm lược.
- Sau năm 1975, cả nước thống nhất quá độ đi lên
CNXH. Tuy nhiên nền kinh tế nước ta còn chưa thoát khỏi
tình trạng kém phát triển. Sức mạnh của giai cấp sản vẫn
còn được tiếp sức bởi sự ủng hộ của giai cấp sản quốc tế
và các thế lực phản động. Nền sản xuất nhỏ có lực lượng
hội đai diện tầng lớp tiều sản thành thị nông thôn,
trong đó đông đảo nhất nông dân. Những lực lượng này
không phải tự nhiên sẽ đi lên CNXH nếu không sự tác
động quản lý của Nhà nước sự lãnh đạo của Đảng.
tưởng tiểu tư sản xâm nhập mọi tầng lớp nhân dân… Khuynh
hướng phát triển TBCN tồn tại trong hầu hết tất cả các nhân
tố đó; tạo thành khả năng khách quan cho sự phát triển của
CNTB.
Từ những đặc điểm trên cho thấy nước ta hiện nay
sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau của nhiều yếu tố
khuynh hướng khác nhau, đối lập nhau giữa TBCN với
CNXH. Sự liên hệ, tác động qua lại giữa những khuynh
hướng đối lập vừa nêu tạo thành bản chất của toàn bộ thời
kỳ quá độ ở nước ta.
Nhận thức vấn đề này, Đảng ta đã nhiều chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế, cải biến hội. Song,
do nhận thức không đầy đủ về hình thức, bước đi .. nên
chúng ta cũng phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng, cộng
với những di sản quá khứ nặng nề do chiến tranh để lại
tác động tiêu cực của bối cảnh quốc tế đã đưa đất nước rơi
vào tình trạng khủng hoảng về kinh tế - hội những năm
trước 1986.
Trên cơ sở nhìn thẳng vào những sai lầm đã mắc phải
để sửa chữa, khắc phục, Đại hội Đảng lần VI đã khởi xướng
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Việc thực hiện hóa
đường lối đổi mới đã mang nhiều thành tựu to lớn trên nhiều
phương diện. Về luận : con đường đi lên CNXH ngày càng
được làm sáng tỏ hơn. Về Chính trị : định hướng XHCN
được vững vàng, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng
cường, nhà nước XHCN Việt Nam của dân, do dân dân
ngày một củng cố. Quan hệ quốc tế được mở rộng. Về kinh
tế : chúng ta đã từng bước chuyển từ nền kinh tế tập trung,
quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường sự quản
nhà nước theo định hướng XHCN; nền kinh tế sự phát
triển nhanh và tương đối liên tục. Về văn hóa – tinh thần : CN
Mác Lênin, tưởng Hồ Chí Minh ngày càng tỏ sức sống
vững bền, nhiều nét mới trong giá trị văn hóa chuẩn mực
đạo đức từng bước hình thành.Thể chế chính trị ổn định, đất
nước ta đã ra khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế - hội
để bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH, đó thành tựu
vĩ đại của hơn 15 năm đổi mới vừa qua
4. Những phương hướng bản trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở nước ta
Để tiếp tục đưa cách mạng nước ta tiến lên, chúng ta
phải tiếp tục thực hiện hiệu quả những phương hướng
bản sau :
Một , "xây dựng Nhà nước hội chủ nghĩa, Nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, nhân dân, lấy liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân tầng lớp trí thức
làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ
quyền dân chủ của nhân dân, giữ nguyên kỷ cương hội,
chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích Tổ quốc
và của nhân dân".
Hai , "phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa
đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền
nông nghiệp toàn diện nhiệm vụ trung tâm nhằm từng
bước xây dựng sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa
hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động hội cải
thiện đời sống nhân dân".
Ba , "phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản
xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất hội chủ nghĩa
từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu. Phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng
hội chủ nghĩa, vận hành theo chế thị trường sự
quản của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh kinh tế tập thể
ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết
quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu".
Bốn, "tiến hành cách mạng hội chủ nghĩa trên lĩnh
vực tưởng văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin
và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời
sống tinh thần hội. Kế thừa phát huy những truyền
thống văn hóa tốt đẹp của tất cảc dân tộc trong nước, tiếp
thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, y dựng một hội
dân chủ, văn minh, lợi ích chân chính phẩm giá con
người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực thẩm mỹ
ngày càng cao. Chống tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái
với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc những giá trị
cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội".
Năm , "thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc,
củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi
lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực
hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác hữu nghị với
tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai
cấp công nhân, đoàn kết với các nước hội chủ nghĩa, với
tất cả các lực lượng đấu tranh hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới".
Sáu là, "xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là
hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong khi
đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta
luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ
an ninh chính trị, trật tự an toàn hội, bảo vệ Tổ quốc
các thành quả cách mạng".
Bảy , "xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về
chính trị, tưởng tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm
cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta".
Đó những định hướng lớn về chính sách kinh tế,
hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, những quan điểm về hệ
thống chính trị vai trò lãnh đạo của Đảng cũng định
hướng cho quá trình quá độ đi lên chủ nghĩa hội nước
ta. Thực hiện có hiệu quả những phương hướng đó luôn luôn
là nhiệm vụ cơ bản của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
thông tin tài liệu
Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ các lãnh vực đời sống của xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinh thần cần thiết để hình thành một xã hội mà trong đó những nguyên tắc căn bản của xã hội XHCN sẽ được thực hiện. Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp công nhân giành được chính quyền nhà nước cho đến khi CNXH đã tạo ra được những cơ sở của mình trong các lãnh vực của đời sống xã hội. Xét về bản chất, mục tiêu nhất quán của các chế độ XH từ khi có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì thời kỳ quá độ lên CNXH nằm trong giai đoạn thấp của hình thái KT-XH CSCN
Mở rộng để xem thêm
×