DANH MỤC TÀI LIỆU
Tiểu luận; Kinh tế chính trị Mac-Lenin- Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế và thách thức đối với Việt Nam
BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
................
TIỂU LUẬN
HP: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế và những
thách thức đối với Việt Nam.
1
LỜI NÓI ĐẦU
Toàn cầu hoá kinh tế xu thế tất yếu biểu hiện s phát triển nhảy vọt của lực
lượng sản suất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng trên phạm vi
toàn cầu dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và tích tụ tập trung tư
bản dẫn tới hình thành nền kinh tế thống nhất. Sự hợp nhất về kinh tế giữa các quốc
gia tác động mạnh mẽ sâu sắc đến nền kinh tế chính trị của các nước nói riêng
của thế giới nói chung. Đó sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới với tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao, cấu kinh tế nhiều sự thay đổi. Sự ra đời của các tổ chức
kinh tế thế giới như WTO, EU, AFTA... nhiều tam giác phát triển khác cũng do
toàn cầu hoá đem lại.
Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam đã đang từng bước cố gắng chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải một mục tiêu nhiệm vụ nhất thời
là vấn đề mang tính chất sống còn đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng như sau
này. Bởi một nứoc đi ngược với xu hướng chung của thời đại sẽ trở nên lạc hậu
bị lập, sớm hay muộn nước đó sẽ bị loại bỏ trên đấu trường quốc tế. n thế nữa,
một nước đang phát triển, lại vừa trải qua chiến tranh tàn khốc, ác liệt...thì việc chủ
động hội nhập kinh tế với khu vực thế giới thì lại càng cần thiết hơn bao giờ hết.
Trong quá trình hội nhập, với nội lực dồi dào sẵn cùng với ngoại lực sẽ tạo ra thời
phát triển kinh tế. Việt Nam sẽ mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thu hút
được vốn đầu nước ngoài, tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiến, những kinh
nghiệm quý báu của các nước kinh tế phát triển tạo được môi trường thuận lợi để
phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một vấn đề bao giờ cũng hai mặt đối lập. Hội nhập
kinh tế quốc tế mang đến cho Việt Nam rất nhiều thời cơ thuận lợi nhưng cũng đem lại
không ít khó khăn thử thách. Nhưng theo chủ trương của Đảng: “Việt Nam muốn làm
bạn với tất cả các nước”, chúng ta sẽ khắc phục những khó khăn để hoàn thành s
mệnh. Hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu khách quan đối với Việt Nam. Em xin chọn
đề tài: "Hội nhập kinh tế quốc tế và những thách thức đối với Việt Nam".
2
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
I. KHÁI NIỆM
Hội nhập kinh tế quốc tế quá trình gắn một cách hữu nền kinh tế quốc
gia với nền kinh tế thế giới góp phần khai thác các nguồn lực bên trong một cách
hiệu quả.
II. NỘI DUNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế
Bất một quốc gia o khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực
cũng như trên thế giới đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc của các tổ chức đó nói
riêng và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung.
Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản của hội nhập: Không phân biệt đối xử giữa
các quốc gia; tiếp cận thị trường các nước, cạnh tranh công bằng, áp dụng các hành
động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, dành ưu đãi cho các nước đang chậm
phát triển.
Đối với từng tổ chức có nguyên tắc cụ thể riêng biệt.
2. Nội dung của hội nhập (chủ yếu là nội dung hội nhập WTO)
Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện
thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư:
- Về thương mại hàng hoá: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như
QUOTA, giấy phép xuất khẩu..., biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành giảm dần
theo lịch trình thoả thuận...
- Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn
phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên
doanh, hiện diện.
- Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu về tỉ lệ
nội địa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ, khuyến
khích tự do hoá đầu tư...
3
III. VAI TRÒ THỜI CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI
VỚI VIỆT NAM
1. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam
Trong thời đại ngày nay, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang 1 trong
những vẫn đề thời sự đối với hầu hết các nước. Nước nào đóng cửa với thế giới đi
ngược xu thế chung của thời đại, khó tránh khỏi rơi vào lạc hậu. Trái lại, mở cửa hội
nhập kinh tế quốc tế tuy có phải trả giá nhất định song đó yêu cầu tất yếu đối với sự
phát triển của mỗi nước. Bởi với những tiến bộ trên lĩnh vực khoa học công nghệ, đặc
biệt công nghệ truyền thông tin học, thì giữa các quốc gia ngày càng mối liên
kết chặt chẽ, nhất trên lĩnh vực kinh tế. Xu hướng toàn cầu hoá được thể hiện
sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới. Về thương mại: trao đổi buôn bán trên
thị trường thế giới ngày càng gia tăng. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, giá trị
trao đổi buôn bán trên thị trường toàn cầu đã tăng 12 lần. Cơ cấu kinh tế có sự thay đổi
đáng kể. Công nghiệp nhường chỗ cho dịch vụ.
Về tài chính, số lượng vốn trên thị trường chứng khoán thế giới đã ng gấp 3
lần trong 10 năm qua. Sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của các tổ chức kinh tế quốc tế
là một phần của quốc tế hoá. Nó góp phần thúc đẩy nền kinh tế của các nước phát triển
mạnh hơn nữa.
Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hoá các nước giàu luôn có những lợi thế về lực
lượng vật chất và kinh nghiệm quản lý. Còn các nước nghèo có nền kinh tế yếu kém dễ
bị thua thiệt, thường phải trả giá đắt trong quá trình hội nhập.
Là một nước nghèo trên thế giới, sau mấy chục năm bị chiến tranh tàn phá, Việt
Nam bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ chế kế hoạch hoá tập trung sang chế thị
trường, từ một nền kinh tế tự túc nghèo nàn bắt đầu mở cửa tiếp xúc với nền kinh tế
thị trường rộng lớn đầy rẫy những sức ép, khó khăn. Nhưng không thế chúng ta
bỏ cuộc. Trái lại, đứng trước xu thế phát triển tất yếu, nhận thức được những cơ hội
thách thức mà hội nhập đem lại, Việt Nam, một bộ phận của cộng đồng quốc tế không
thể khước từ hội nhập. Chỉ hội nhập Việt Nam mới khai thác hết những nội lực sẵn
có của mình để tạo ra những thuận lợi phát triển kinh tế.
Chính vậy đại hội Đảng VII của Đảng Cộng Sản Việt Namm 1991 đã
đề ra đường lối chiến lược: “Thực hiện đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế,
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại”. Đến đại hội đảng VIII, nghị quyết TW4 đã đề ra
4
nhiệm vụ: “Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực từ bên
ngoài, xây dựng một nền kinh tế mới, hội nhập với khu vực và thế giới”.
2. Thời cơ đối với nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập
Tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới khu vực sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam phát triển một cách nhanh chóng. Những hội của hội nhập đem lại Việt
Nam tận dụng được một cách triệt để sẽ làm bàn đạo để nền kinh tế sớm sánh vai với
các cường quốc năm châu.
2.1. Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần mở rộng thị trường xuất nhập khẩu của
Việt Nam
Nội dung của hội nhập mở cửa thị trường cho nhau, vì vậy, khi Việt Nam gia
nhập các tổ chức kinh tế quốc tế sẽ mở rộng quan hệ bạn hàng. Cùng với việc được
hưởng ưu đãi về thuế quan, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi ngộ khác
đã tạo điều kiện cho ng hoá của Việt Nam thâm nhập thị trường thế giới. Chỉ tính
trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) kim ngạch xuất khẩu của ta
sang các nước thành viên cũng đã tăng đáng kể. Năm 1990, Việt Nam đã xuất khẩu
sang ASEAN đạt 348,6 triệu USD, nhưng đến năm 1998 đạt 2349 triệu USD. Nếu
thực hiện đầy đủ các cam kết trong AFTA thì đến năm 2006 hàng công nghiệp chế
biến có xuất xứ từ nước ta sẽ được tiêu thụ trên tất cả các thị trường các nước ASEAN.
Nếu sau 2000 nước ta gia nhập WTO thì sẽ được hưởng ưu đãi dành cho nước đang
phát triển theo quy chế tối huệ quốc trong quan hệ với 132 nước thành viên của tổ
chức này. Do vậy, hàng của ta sẽ xuất khẩu vào các nước đó dễ dàng hơn. Đối với các
nước EU cũng vậy, tiềm năng mở rộng thị trường hàng hoá Việt Nam tại các nước đó
rất lớn. nhiên nước ta bán được hàng ra bên ngoài hay không còn phụ thuộc
vào chất lượng, giá cả, mẫu mã... hay nói cách khác sức cạnh tranh của hàng hoá
Việt Nam ra sao? Nếu hàng hoá Việt Nam mẫu đẹp, chất lượng tốt, giá thành
rẻ...thì việc chiếm lĩnh thị trường thế giới tất yếu. Nhưng do hiện nay nước ta còn
thiếu vốn, khoa học thuật chưa được cải tiến đồng bộ, do đó chất lượng hàng hoá
chưa cao, giá thành chưa rẻ, mặc dù có được hưởng những ưu đãi về thuế.
2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút đầu nước ngoài,
viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế.
- Thu hút vốn đầu nước ngoài: Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế
hội để thị trường nước ta được mở rộng, điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Họ sẽ
5
mang vốn công nghệ vào nước ta sử dụng lao động tài nguyên sẵn của nước
ta làm ra sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới với các ưu đãi mà nước
ta hội mở rộng thị trường, kéo theo hội thu hút vốn đầu nước ngoài. Đây
cũng là cơ hội để doanh nghiệp trong nước huy động và sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Hiện nay đã có trên 70 nước vùng lãnh thổ dự án đầu vào Việt
Nam, trong đó nhều công ty tập đoàn lớn, công nghệ tiên tiến. Điều này góp
phần làm chuyển dịch cấu kinh tế trong nước theo hướng công nghiệp, phát triển
lực lượng sản xuất tạo nên công ăn việc làm. Tuy nhiên kể từ giữa năm 1997 đến
nay, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, đầu trực tiếp nước ngoài
vào nước ta hướng suy giảm. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp
vốn đầu nước ngoài vẫn tăng nhanh. Nếu như năm 1991 đạt 52 triệu USD thì
năm 1997 là 1790 triệu USD.
- Viện trợ phát triển ODA: Tiến nh bình thường hoá quan hệ i chính của
Việt Nam, các nước tài trợ các thể chế tài chính tiền tệ quốc tế đã tháo gỡ từ năm
1992 đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc xây dựng
và nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng. Tính đến 1999, tổng số vốn viện trợ phát triển cam
kết đã đạt 13,04 tỉ USD. Tuy nhiên, vấn đề quản sử dụng nguồn vốn ODA còn
bộc lộ nhiều yếu kém, nhất là tình trạng giải ngân chậm và việc nâng cao hiêu quả của
việc sử dụng nguồn vốn ODA.
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần giải quyết tốt vấn đề nợ Việt Nam:
Trong những năm qua nhờ phát triển tốt mối quan hệ đối ngoại song phương đa
phương, các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam về bản đã được giải quyết
thông qua câu lạc bộ Paris, London đàm phán song phương. Điều đó góp phần ổn
định cán cân thu chi ngân sách, tập trung nguồn lực cho các chương trình phát triển
kinh tế xã hội trong nước.
2.3. Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa
học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh.
- Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế sẽ tranh thủ được thuật, công nghệ tiên
tiến của các nước đi trước để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo
sở vật chất thuật cho công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Hội. Hội nhập kinh tế
quốc tế con đường để khai thông thị trường nước ta với khu vực thế giới, tạo ra
môi trường đầu hấp dẫn hiệu quả . Qua đó các thuật, công nghệ mới có
6
thông tin tài liệu
Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển. Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng về tăng trưởng kinh tế. Song chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất, sức cạnh tranh của các sản phẩm, các doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp. - Tình trạng phổ biến hiện nay là sản xuất còn mang tính tự phát, chưa bám sát nhu cầu thị trường. Nhiều sản phẩm làm ra chất lượng thấp, giá thành cao nên giá trị gia tăng thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, thậm chí có nhiều sản phẩm cung vượt quá cầu, hàng tồn kho lớn. Năng lực cạnh tranh hàng hoá, dịch vụ của nước ta nói chung còn thấp do trang thiết bị công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn yếu kém, lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 30 năm, cộng thêm những yếu kém về quản lý, môi trường đầu tư kinh doanh (thủ tục hành chính chưa thông thoáng, chính phủ đầu tư quá cao so với các nước trong khu vực), hạn chế về cung cấp thông tin xúc tiến thương mại.
Mở rộng để xem thêm
tài liệu giúp tôi
Nếu bạn không tìm thấy tài liệu mình cần có thể gửi yêu cầu ở đây để chúng tôi tìm giúp bạn!