DANH MỤC TÀI LIỆU
CÂU HỎI ÔN TẬP LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
ÔN TẬP LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
Câu 1: Trường phái trọng thương, trọng nông (Biểu kinh tế của Quesnay), trường phái trọng tiền?
1. Trường phái Trọng thương:
Chủ nghĩa trọng thương là trường phái kinh tế chính trị tư sản đầu tiên thể hiện chính sách đặc biệt
thời kỳ đầu tích lũy tư bản, đề cao vai trò của Nhà nước cầm quyền trong hoạt động kinh tế và quyền lợi của
giới doanh thương.
Các quan điểm chính
1.1 Vai trò của nhà nước:
Nhà nước có vai trò kinh tế, điều tiết hoạt động kinh tế của một quốc gia.
- Nhà nước thông qua cơ chế thuế suất để điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu.
- Nhà nước thông qua cơ chế pháp luật để ngăn chặn sự thất thoát vàng bạc ra nước ngoài.
- Nhà nước khuyến khích những người thợ lành nghề từ nước ngoài nhập cư vào trong nước và tìm cách
ngăn cấm những người thợ lành nghề trong nước xuất cư ra nước ngoài.
- Nhà nước khuyến khích thành lập các công ty độc quyền xuất nhập khẩu hàng hóa.
- Nhà nước khuyến khích cả độc quyền về lĩnh vực vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Nhà nước khuyến khích tìm kiếm những vùng đất mới ở nước ngoài
Chủ nghĩa trọng thương là hệ tư tưởng đầu tiên xác định các chức năng lãnh đạo cho người đứng đầu nhà
nước.
1.2 Vai trò của các ngành sản xuất:
- Coi trong hoạt động ngoại thương. Sự giàu có thịnh vượng của một quốc gia dựa vào hoạt động thương
mại, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.
1.3 Vai trò của tiền tệ:
- Tiền là biểu hiện của sự giàu có và tiền là tư bản để sinh lời. Tiền là của cải duy nhất nên phải tích trữ
tiền.Đặc biêt coi trọng vai trò của vàng bạc, họ cho rằng càng có nhiều vàng bạc thì càng giàu có.Đất nước
nào nếu có vàng thì khai thác, còn không thì cách duy nhất để tích lũy vàng bạc là hoạt động ngoại thương.
1.4 Cán cân mậu dịch:
Chỉ chú ý đến xuất khẩu.Họ cho rằng cần tập trung hoàn toàn vào xuất khẩu, vì xuất khẩu là nguồn mang lại
kim loại quý. Còn nhập khẩu thì rất hạn chế, đặc biệt là các sản phẩm đã hoàn chế và hàng hóa xa xỉ
phẩm.Mỗi nước cần tạo cho mình một cán cân mậu dịch thuận lợi, xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu và khi
xuất chỉ xuất tư liệu tiêu dùng, không xuất tư liệu sản xuất.
Theo họ trong quan hệ mậu dịch giữa 2 nước luôn luôn có một nước được hưởng lợi và nước kia chịu thiệt
hại.
Bảo vệ chính sách bảo hộ: khuyến khích xuất khẩu (thông qua trợ giá) và cản trở nhập khẩu (dựa vào thuế
quan).
1.5 Lãi suất:
Họ cho rằng để tạo điều kiện cho một quốc gia phát triển thì lãi suất phải thấp, cung tiền thích hợp mà theo
họ là cung vô giới hạn tiền.
2. Trường phái Trọng nông
Chủ nghĩa trọng nông hay trường phái trọng nông là một trong những trường phái kinh tế tiêu biểu, cho rằng
nguồn gốc thuần túy của sự giàu có của mỗi quốc gia là từ sản xuấtnông nghiệp hay các dạng phát triển đất
đai khác, đề cao vai trò của sản xuất nông nghiệp và nông dân.
2.1 Vai trò của nhà nước
- Quyền tự do của cá nhân là hợp với tự nhiên, cần phải có tự do kinh tế “tự do buôn bán, tự do hoạt động”.
Nhà nước không được can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế. Nhà nước chỉ đặt ra các điều luật cần
thiết phù hợp với "quy luật tự nhiên" và sau đó các chức năng của Nhà nước sẽ phai mờ dần.
2.2 Vai trò của các ngành sản xuất
- Phát triển sản xuất Nông nghiệp là phù hợp với luật tự nhiên, phải sản xuất hàng hóa lớn trong nông
nghiệp. Coi trọng nông nghiệp và nông nghiệp là ngành sản xuất duy nhất còn các ngành khác không phải là
ngành sản xuất mà chỉ là chế biến vật phẩm từ dạng này sang dạng khác.
- Phát triển sản xuất Nông nghiệp theo phương thức TBCN dưới hình thức đồn điền. Họ cho rằng nguồn gốc
sản phẩm thuần túy là do lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tạo ra vì họ quan niệm đất đai là mẹ của của cải, gắn
liền với trật tự tự nhiên, đó chính là ý đồ của đức chúa trời.
2.3 Vai trò của tiền tệ:
- Cho rằng tiền không phải là của cải mà chỉ là vật trung gian làm phương tiện lưu thông, làm môi giới giữa
người bán và người mua, chống việc tích trữ tiền. Họ coi trọng đất đai và cho rằng chính đất đai đẻ ra của
cải, là mẹ của của cải.
2.4 Cán cân mậu dịch:
- Chủ nghĩa trọng nông phê phán gay gắt những tư tưởng kinh tế phiến diện của trường phái trọng thương,
cho rằng không phải "phi thương bất phú", với lý do: hoạt động thương nghiệp chỉ là hoạt động phục vụ tiêu
dùng chứ không làm tăng thêm giá trị, nghĩa là không đem lại giàu có cho xã hội. Vì vậy trường phái trọng
nông cho rằng phi nông mới là bất phú, vì chính ngành nông nghiệp trực tiếp sản xuất ra lương thực, thực
phẩm - của cải vật chất chính yếu - nguồn gốc của sự giàu có.
Phân tích biểu kinh tế của Quessnay:
Quesnay đã phân tích một cách khoa học việc tái sản xuất trong “Biểu kinh tế”. Để phân tích “Biểu
kinh tế”, Quesnay đã đưa ra các giả định sau:
- Chỉ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn
- Giá cả hàng hóa không thay đổi
- Không xét đến ngoại thương
Quesnay đã chia xã hội thành 3 giai cấp
- Những người tạo ra sản phẩm thuần túy là giai cấp sản xuất
- Những người thu sản phẩm thuần túy là giai cấp sở hữu
- Những người hoạt động trong thương nghiệp, công nghiệp là giai cấp không sản xuất
Dựa vào tính chất hiện vật của sản phẩm, Quesnay chia sản phẩm xã hội ra thành sản phẩm nông nghiệp
và sản phẩm công nghiệp
Giá trị tổng sản phẩm xã hội bao gồm 7 tỷ được chia thành 5 tỷ sản phẩm nông nghiệp và 2 tỷ sản phẩm
công nghiệp.
Chi phí sản xuất chia thành 3 bộ phận:
- Tiền ứng trước hàng năm (tư liệu, giống…): 2 tỷ
- Tiền ứng trước đầu tiên (TBCĐ): 1 tỷ
- Sản phẩm thuần túy: 2 tỷ
2 tỷ sản phẩm công nghiệp được chia như sau:
- Tư liệu dùng: 1 tỷ
- Nguyên vật liệu để tiếp tục sản xuất: 1 tỷ
Quá trình tái sản xuất diễn ra như sau:
- Giai cấp sản xuất trả cho giai cấp sở hữu 2 tỷ tiền tô. Giai cấp sở hữu không sản xuất gì, chỉ chi tiêu sản
phẩm thuần túy: dùng 1 tỷ để mua hàng tiêu dùng của giai cấp sản xuất. Vậy là 1 tỷ sản phẩm nông nghiệp
ra khỏi lưu thông đi vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu, 1 tỷ còn lại giai cấp sở hữu tiếp tục mua hàng công
nghệ của giai cấp không sản xuất. Sau khi nhận 1 tỷ của giai cấp sở hữu, g/c không sản xuất đi mua hàng
tiêu dùng của g/c sản xuất.G/c sản xuất lại dùng 1 tỷ vừa nhận được mua tư liệu sản xuất của g/c không sản
xuất.G/c không sản xuất lại đem 1 tỷ vừa nhận được mua nguyên liệu nông nghiệp của giai cấp sản xuất.Kết
quả: G/c không sản xuất có 2 tỷ nông sản phẩm, g/c sản xuất có 2 tỷ tiền, 1 tỷ công nghệ phẩm và 2 tỷ nông
sản phẩm còn lại.
Nhận xét:
Ưu điểm:
- Đưa ra những giả định là đúng
- Lần đầu tiên nghiên cứu về tái sản xuất và sự vận động của tổng sản phẩm XH trên cả 2 mặt: giá trị
và hiện vật, sự vận động của sản phẩm kết hợp với sự vận động của tiền.
- Đặt nền móng cho nghiên cứu tái sản xuất sau này
Nhược điểm:
- Không phân tích tái sản xuất mở rộng
- Coi nhẹ vai trò của sản xuất Công nghiệp, Thương nghiệp.
3. Trường phái Trọng tiền:
Quan điểm trung tâm của trường phái Trọng Tiền ở Mỹ là giả thuyết về tính ổn định bên trong của nền
KT TBCN, dưới sự tác động tự do của thị trường. Vai trò của KT nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng
chỉ dừng lại ở mức tối thiểu.
3.1 Mức cung tiền tệ là nhân tố chính làm thay đổi tổng thu nhập quốc dân (GNP) danh nghĩa.
= 
M: Lượng tiền cần thiết cho lưu thông
V: Vòng quay của tiền tệ
M.V = GNP, do v tương đối ổn định vì vậy nếu M thay đổi sẽ làm thay đổi GNP, dn = P.Q
Mức cầu tiền tệ là ổn định trong khi mức cung lại không ổn định từ đó sẽ dẫn đến bất ổn trong nền
kinh tế.
3.2 Mức cung tiền tệ là nhân tố chính làm thay đổi giá cả vì vậy chính phủ phải kiểm soát lượng tiền
đưa vào lưu thông để chống lạm phát.
M.V = GNP = P.Q => =
M
Nếu P và V ổn định thì chỉ có M ảnh hưởng đến giá cả P.
Keyness cho rằng khủng hoảng và thất nghiệp quan trọng hơn lạm phát nhưng Friedman lại cho rằng
chống lạm phát quan trọng hơn thất nghiệp vì chủ yếu là thất nghiệp tự nguyện (có việc làm nhưng
không muốn làm vì không phù hợp hoặc có nguồn dự trữ).
3.3 Ủng hộ tư tưởng tự do KT, đảm bảo tự do kinh doanh, nền KT sẽ tự cân bằng động. Nhà nước
không nên can thiệp sâu vào nền KT.
Kiểm soát chặt chẽ lượng tiền đưa vào lưu thông để tránh xảy ra lạm phát.
Bảo vệ quyền sở hữu tư nhân.
Câu 2: Học thuyết của A.Smith, D.Ricardo, Mac – Lênin về:
- Lý luận giá trị, lao động, lợi nhuận
Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của A.Smith
Lý thuyết “Lợi thế tương đối của D.Ricardo” và “Lợi thế tuyệt đối của A.Smith”
1. Học thuyết của A. Smith, D. Ricardo, Mac – Lênin về giá trị lao động, lợi nhuận
A.Smith D.Ricardo Mac – Lênin
Giá trị- - Giá trị là do hao phí lao động -Về chất: GT do LĐ tạo ra, - K. Marx là người
lao
động
để sản xuất ra hàng hóa quyết
định, lao động là thước đo thực
tế mọi giá trị.
- Giá trị do lao động quyết
định, mà lao động đó có thể
mua bán và đổi lấy hàng hóa.
- Trong nền kinh tế hàng hóa
nhỏ, giá trị được biểu hiện ở
giá trị trao đổi còn trong nền
sản xuất hàng hóa phát triển,
nó được biểu hiện ở tiền tệ.
- Nghiên cứu lao động phức
tạp và lao động giản đơn, sự
khác nhau, mối quan hệ giữa
chúng và cho rằng trong cùng
một thời gian lao động như
nhau nhưng LĐ phức tạp sẽ tạo
ra 1 lượng giá trị nhiều hơn so
với LĐ giản đơn.
- Phân biệt giá trị sử dụng và
giá trị trao đổi. Giá trị sử dụng
không liên quan và không
quyết định giá trị trao đổi.
GTTĐ là do hao phí lao động
làm ra hàng hóa quyết định.
Vật nào có GTSD càng cao thì
GTTĐ càng thấp
Cấu thành GTHH = tiền lương
+ lợi nhuận + địa tô. A.Smith
đã nhầm lẫn giữa quá trình
hình thành giá trị và phân phối
giá trị, giữa giá trị hàng hóa
với giá trị mới sáng tạo ra. Bỏ
qua yếu tố cần thiết trong cấu
thành giá trị hàng hóa là giá trị
tư liệu sản xuất (chỉ có v + m,
ko có c)
- Phân biệt giá cả tự nhiên và
giá cả thị trường. Giá cả tự
nhiên do hao phí lao động làm
ra hàng hóa quyết định, biểu
hiện bằng tiền của giá trị. Giá
cả thị trường là giá cả thực tế
của hàng hóa. Do sự biến động
của cung – cầu làm cho giá cả
thị trường chênh lệch với giá
cả tự nhiên nhưng sự biến
động này luôn xoay quanh giá
cả tự nhiên và có khuynh
hướng quay trở lại giá tự
nhiên.
LĐ là cơ sở duy nhất của
giá trị. Về lượng: GT được
đo lường bằng lượng thời
gian lao động cần thiết để
sản xuất ra hàng hóa.
- Giá trị do hao phí lao
động quyết định, tiền lương
cao hay thấp không quyết
định GTHH.
- Phân biệt 2 thuộc tính của
hàng hóa: GTSD và
GTTĐ. GTSD không phải
là thước đo của GT trao
đổi. GTSD ko quyết định
GT trao đổi.
- Vật càng khan hiếm thì
GT trao đổi càng cao.
-Thấy được lao động tạo ra
giá trị trong đó có sự phối
hợp giữa lao động sống và
lao động quá khứ.
-GTHH là do lao động
trong điều kiện sản xuất
xấu quyết định, một số ít
hàng hóa khan hiếm do
GTSD quyết định.
Giá trị HH=c1+v
(c1 :lao động vật hóa: máy
móc thiết bị…)
-GCTN do lượng lao động
hao phí quyết định, là biểu
hiện của GT trao đổi
đầutiên phát hiện ra tính
chất 2 mặt của lao động
sản xuất hàng hóa: Lao
động cụ thể tạo ra giá trị
sử dụng, lao động trừu
tượng tạo ra giá trị hàng
hóa.
- Bản chất của giá trị là
lao động. Giá trị hàng hóa
là lao động trừu tượng của
người sản xuất hàng hóa
kết tinh trong hàng hóa
- Lượng giá trị hàng hóa
là lượng thời gian lao
động xã hội cần thiết.
- GTHH = c+v+m (c: giá
trị cũ, v+m: giá trị mới)
- Nghiên cứu tính chất của
lao động: lao động phức
tạp và lao động giản đơn.
Lợi
nhuận
- Adam Smith cho rằng lợi
nhuận là khoản khấu trừ thứ
hai vào sản phẩm của lao động,
không chỉ lao động trong nông
nghiệp mà cả trong công
nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận.
- Lợi nhuận tăng hay giảm tùy
thuộc vào sự giàu có tăng hay
giảm của XH. Ông thừa nhận
sự đối lập của tiền công là lợi
nhuận. Ông nhìn thấy sự cạnh
tranh giữa các ngành và
thường xuyên thì tỷ xuất lợi
nhuận giảm sút. Theo ông, tư
bản đầu tư càng nhiều thì tỷ
suất lợi nhuận càng thấp.
- Ngoài ra, ông cũng cho rằng
tư bản trong lĩnh vực sản xuất
cũng như tư bản trong lĩnh vực
lưu thông đều đẻ ra lợi nhuận
như nhau.
- Theo cách giải thích của
Adam Smith thì lợi nhuận, địa
tô, lợi tức chỉ là những hình
thái khác nhau của giá trị thặng
dư.
-Lợi nhuận là 1 phần giá trị
do LĐ của công nhân tạo
ra, là số còn lại của nhà tư
bản sau khi trả lương cho
công nhân. GTHH do công
nhân sản xuất ra bao giờ
cũng lớn hơn số tiền công
nhà TB trả. Lợi nhuận tỷ lệ
nghịch với tiền công.
- Lợi nhuận của các Tb đầu
tư vào các ngành khác
nhau, nếu TB tương đương
nhau thì có xu hướng thu
được lợi nhuận ngang
nhau. Tỷ suất lợi nhuận
giảm sút là do giá cả nông
phẩm tăng lên dẫn đến địa
tô tăng và tiền công cũng
tăng lên.
- Coi sự đối lập giữa tiền
lương và lợi nhuận là 1 quy
luật tự nhiên.
- Lợi nhuận là hình thức
biểu hiện của giá trị thặng
dư ra bên ngoài đời sống
thực tế.
- Giá trị thặng dư trong
giai đoạn CNTB tự do
cạnh tranh được biểu hiện
thành lợi nhuận bình quân.
Trong giai đoạn CNTB
độc quyền biểu hiện thành
lợi nhuận độc quyền.
- Trên cơ sở lấy tính chất
2 mặt của LĐSXHH,
K.Marx phân chia TB
thành TBBB (c), TBKB
(v+m trong đó v là bộ
phận trực tiếp tạo ra
GTTD m), phân tích làm
sáng tỏ nguồn gốc và bản
chất của TB và GTTD từ
đó rút ra kết luận: Bản
chất quy luật GTTD là
quy luật kinh tế cơ bản
của CNTB. TB là GT
mang lại GTTD bằng cách
bóc lột công nhân làm
thuê.
2. Lý thuyết “Bàn tay vô hình của A.Smith”
Lý thuyết “Bàn tay vô hình” dựa trên sự thúc đẩy của lợi ích cá nhân và sự điều tiết của thị trường tự
do cạnh tranh. Ông cho rằng chế độ XH bình thường hợp với “trật tự tự nhiên” là XHTB, nền KT bình
thường là nền KT phát triển trên cơ sở tự do cạnh tranh, XH bình thường là XH xây dựng trên cơ sở quy luật
tự nhiên còn XH ko bình thường là sản phẩm của độc đoán, ngẫu nhiên và dốt nát của con người.
Ông cho rằng mỗi người trong quá trình trao đổi sản phẩm không ai xuất phát từ lợi ích công mà xuất
phát từ lợi ích cá nhân của mình.Lợi ích cá nhân chính là mục đích, là động lực xuất phát hướng con người
tới công việc nào mà xã hội sẵn sàng trả tiền.. Khi chạy theo lợi ích cá nhân thì lợi ích công cộng cũng được
hình thành bởi một bàn tay vô hình dẫn dắt mọi người phục vụ cho lợi ích công, phục vụ cho lợi ích xã hội.
Bàn tay vô hình đó không nằm trong ý muốn ban đầu của con người. Bàn tay vô hình đó chính là các quy
luật kinh tế khách quan chi phối hành động của con người. Adam Smith gọi hệ thống các quy luật khách
quan đó là một trật tự thiên định. Ông chỉ ra các điều kiện cần thiết để cho các quy luật hoạt động là: phải có
sự tồn tại và phát triển sản xuất trao đổi hàng hóa, nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do
mậu dịch. Quá trình ấy được thực hiện bởi chính quá trình cạnh tranh giữa các lợi ích cá nhân.Không cần kế
hoạch, không cần mệnh lệnh, thị trường sẽ tự động giải quyết tất cả.
Ông cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, nhà nước chỉ có chức năng bảo vệ quyền sở
hữu tư bản, đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chống tội phạm trong nước. Nhà nước chỉ nên can thiệp vào
các chức năng kinh tế khi nó vượt ra ngoài khả năng của các chủ doanh nghiệp. Ông cho rằng chính sách
kinh tế tốt nhất của nhà nước là tự do kinh tế.
3. Lý thuyết “Lợi thế tương đối” của David Ricardo
Ích lợi của phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất giữa các nước không những chỉ có lợi cho
các nước có lợi thế tuyệt đối về điều kiện tự nhiên và chi phí sản xuất thấp mà còn cho cả các nước không có
được lợi thế tuyệt đối. Vấn đề đặt ra là phải chuyên môn hóa sản xuất, nếu mỗi nước chuyên môn hóa sản
xuất các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối thì thương mại sẽ có lợi cho cả 2 bên.
Qui luật lợi thế tương đối cho rằng cần thực hiện phân công lao động quốc tế. Qua đó các nước
chuyên môn hóa vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế có thể sản xuất với giá thành
tương đối thấp hơn và nhập khẩu những mặt hàng mà mình sản xuất ra với giá thành cao hơn.
Để phát huy lợi thế tương đối cần thực hiện các nội dung:
- Phân công lao động chuyên môn hóa giữa các nước
- Tự do trao đổi giữa các nước, xóa bỏ hàng rào thuế quan bảo hộ
4. Lý thuyết “lợi thế tuyệt đối của A.Smith”
- Trao đổi là nguồn gốc của sự phân công lao động. Để tăng thêm của cải của 1 quốc gia có 2 cách:
+ Tăng NSLĐ nhờ phân công LĐ chuyên môn hóa
+ Tăng số lượng LĐ trực tiếp sản xuất
- Khi phân công lao động phát triển giữa các nước sẽ cho phép mỗi nước phát huy được lợi thế tuyệt đối:
Nếu 1 nước ngoài có thể cung cấp cho chúng ta 1 thứ hàng hóa rẻ hơn chúng ta làm lấy thì tốt nhật là chúng
ta hãy mua của nước đó với 1 phẩn sản phẩm công nghiệp của chúng ta, còn SX CN của chúng ta hãy đem
dùng sản xuất 1 loại sản phẩm nào mà ta có lợi thế.
Câu 3: Học thuyết kinh tế Tân Cổ Điển
1. Trường phái Thành Vienna (Áo)
1.1 Lý thuyết ích lợi giới hạn:
Ích lợi là đặc trưng cụ thể của vật. Khi sự thỏa mãn nhu cầu tăng thì ích lợi có xu hướng giảm dần.
Nếu xét trên mức độ thỏa mãn thì vật sau có ích lợi nhỏ hơn vật trước. Vật cuối cùng (vật phẩm giới hạn) sẽ
có ích lợi giới hạn, quyết định ích lợi chung. Tân cổ điển cho rằng SP càng ít, ích lợi giới hạn càng lớn.Khi
SP tăng lên, tổng lợi ích cũng tăng, nhưng ích lợi giới hạn thì giảm đi.
1.2 Lý thuyết giá trị giới hạn:
Giá trị giới hạn là giá trị của SP giới hạn do ích lợi giới hạn qui định. Nó quyết định cho giá trị của
tất cả SP. Số lượng SP và giá trị giới hạn vận động ngược chiều nhau.Khi SP tăng lên, giá trị giới hạn giảm
xuống, dẫn đến tổng giá trị giới hạn giảm. Như vây, để có nhiều giá trị, thì phải tạo ra sự khan hiếm.
2. Lý thuyết “Năng suất giới hạn” của J.B.Clark
Sự tăng thêm của 1 nhân tố sản xuất nào đó trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi thì năng suất
của nhân tố tăng thêm sẽ giảm dần.
Lý thuyết phân phối:
- Tiền lương của công nhân bằng “sản phẩm giới hạn” của lao động.
- Nhà tư bản thu lợi nhuận, phụ thuộc vào “hiệu quả giới hạn” của tư bản.
- Chủ đất nhận địa tô bằng “sản phẩm giới hạn” của đất đai.
3. Lý thuyết cân bằng tổng quát của L. Walras
- Kế thừa tư tưởng tự do KT của A.Smith, ông đưa ra lý thuyết cân bằng tổng quát trong nền KT thị
trường tự do cạnh tranh.
- Trong nền KT thị trường có 3 thị trường chủ yếu: thị trường HH&DV, thị trường vốn, thị trường lao động.
3 thị trường này vốn dĩ là độc lập với nhau, nhưng lại được liên kết với nhau bởi các doanh nhân.
- Đối với doanh nhân, chi phí SX = lãi suất + tiền lương. Giả sử doanh nhân bán hàng với giá cả > chi phí
SX, thì công việc KD có lãi. Tiếp tục mở rộng qui mô SX, phải vay thêm tư bản, thuê thêm lao động. Làm
cho lãi suất & tiền lương đều tăng lên. Đồng thời cung về SP cũng tăng lên, giá cả sẽ giảm xuống. Đến 1 lúc
thông tin tài liệu
TUYỂN TẬP 4 CÂU HỎI ÔN TẬP LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ - KÈM HƯỚNG DẪN CHI TIẾT
Mở rộng để xem thêm
xem nhiều trong tuần
yêu cầu tài liệu
Giúp bạn tìm tài liệu chưa có

LÝ THUYẾT TOÁN


×